Thứ Tư, 23 tháng 6, 2010

Triễn lãm “Bản đồ cổ về Thềm lục địa, biển Đông và hải đảo Việt Nam” đã bị hủy vào giờ chót

Triển lãm “Bản đồ cổ về Thềm lục địa, Biển Đông và hải đảo Việt Nam” của Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu dự kiến khai mạc vào lúc 9 giờ sáng 23/6/2010 tại Thư viện Khoa học tổng hợp TPHCM đã bị hủy bỏ vào giờ chót.


Cho đến lúc này, lý do mà ban tổ chức – gồm Thư viện Khoa học tổng hợp TP HCM (trực thuộc Sở Thông tin truyền thông TP HCM) và Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu – đưa ra là “vì trục trặc kỹ thuật”(?).

Đinh Kim Phúc

Nguồn: http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=32690


Bài này đăng trên http://ca.cand.com.vn/News, nhưng bây giờ tìm không ra nữa, không biết có phải đã gỡ rồi không. Bản này lấy trên baomoi.
TH

Giải mã lịch sử bằng bản đồ cổ Việt Nam



Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu chia sẻ rằng, hiện tại, có khoảng 3.000 bản đồ về Việt Nam đã được ông dày công sưu tập trong vài chục năm qua và 150 bản đồ cổ được trưng bày tại Thư viện Khoa học tổng hợp TP HCM ngày 23/6 gần như là toàn bộ số bản đồ cổ về thềm lục địa, biển Đông và hải đảo Việt Nam mà ông có được.

Lần đầu tiên, 150 bản đồ cổ về thềm lục địa, biển Đông và hải đảo Việt Nam sẽ được nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu chính thức giới thiệu tại Thư viện Khoa học tổng hợp TP HCM ngày 23/6 với khá nhiều công bố mới trong công trình nghiên cứu về Việt Nam qua bản đồ cổ của ông.

Cũng đã có người đánh tiếng, mong ông chuyển nhượng lại quyền sở hữu số bản đồ này nhưng trò chuyện với chúng tôi, nhà nghiên cứu đã ở tuổi 90 này vẫn không khỏi băn khoăn: đây chỉ là một phần rất nhỏ trong các công trình đã, đang và cần được tiếp tục nghiên cứu của ông.

150 bản đồ cổ và câu chuyện bị hiểu lầm nhiều thế kỷ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu chia sẻ rằng, hiện tại, có khoảng 3.000 bản đồ về Việt Nam đã được ông dày công sưu tập trong vài chục năm qua và 150 bản đồ cổ được trưng bày lần này gần như là toàn bộ số bản đồ cổ về thềm lục địa, biển Đông và hải đảo Việt Nam mà ông có được.

Trong số đó có đến 50 tấm bản đồ hoặc mẩu bản đồ mô tả đất nước Việt Nam với thềm lục địa và biển Đông, trích lục từ các bản đồ thế giới hay khu vực Á Đông do Tây phương ấn hành suốt từ năm 1525 đến năm 1886.

Tấm bản đồ có "tuổi đời" cao nhất được vẽ vào năm 1525 của Diogo Ribeiro: Bờ biển Việt Nam và biển Đông. Một số bản đồ khác cũng triển lãm đợt này được vẽ vào thời các Chúa Nguyễn (từ 1600 đến 1777), triều Nguyễn (từ 1802 đến 1862) nhưng thể hiện đầy đủ nhất phải kể đến An Nam Đại Quốc Họa Đồ (1838) và Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ (1840). Cùng với bộ sưu tập bản đồ cổ, công trình "Tìm hiểu thềm lục địa - biển Đông, hải đảo Việt Nam" với nhiều công bố mới được nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu chính thức giới thiệu rộng rãi.

Chia sẻ về công trình này, ông cho biết: Đồ cổ nói chung, bản đồ cổ nói riêng chứa đựng rất nhiều điều thú vị về lịch sử, văn hóa, dân tộc mà mỗi nhà nghiên cứu, người am hiểu về hiện vật có được những kiến thức khác nhau, tùy theo trình độ kiến thức của từng người. Riêng ông, sau vài chục năm gắn bó với chúng, nghiên cứu qua 200 bản đồ cổ mà quốc tế vẽ về Việt Nam, ông phát hiện ra rằng chưa có bản đồ nào nói Trường Sa, Hoàng Sa không phải của Việt Nam.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu giới thiệu một trong những bản đồ cổ của quốc tế vẽ về Việt Nam. Ảnh: Ngọc Nguyễn.

Chờ đợi… bạn tri âm

Tuy nhiên, cũng theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, những câu chuyện nhiều bất ngờ thú vị đến từ những tấm bản đồ cổ còn rất nhiều. Chỉ nhìn vào một tấm bản đồ có thể "đọc" được rất nhiều thứ. Ví dụ, với một tấm bản đồ người Pháp vẽ đầu thế kỷ XVII, phần vẽ đồng bằng sông Hồng bị khuyết, không được thể hiện rõ ràng, chứng tỏ người vẽ đi từ phía Nam lên phía Bắc nhưng chưa "đi đến nơi về đến chốn".

Với bản đồ vẽ Việt Nam của Alexandre De Rhodes năm 1650, ông thấy việc thể hiện khoa học, hiện đại, vẽ theo kinh tuyến, vĩ tuyến nhưng lại thấy khá quen. Sau khi đọc đi đọc lại hàng trăm lần, so sánh với bản đồ An Nam quốc của Việt Nam, vẽ năm 1490 thời Hồng Đức thì rất giống, chứng tỏ khi vẽ Alexandre De Rhodes đã tham khảo rất kỹ An Nam quốc… Những thông tin bất ngờ như thế có lẽ còn rất nhiều nhưng đọc được không dễ. Ngay bản thân ông cũng mất rất nhiều năm tháng, đọc hàng trăm tập sách sử trong và ngoài nước mới giải mã được.

Được biết, hiện tại, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đã viết khoảng 75 cuốn sách, trong đó có 30 cuốn viết độc lập, 45 cuốn viết chung, có rất nhiều đầu sách có giá trị về lịch sử TP HCM, Nam Bộ, lịch sử phát triển miền Nam… Cùng với quá trình nghiên cứu, những sưu tập về đồ cổ nói chung, bản đồ cổ nói riêng ngày càng nhiều hơn, trong đó có nhiều hiện vật có giá trị phục vụ công tác nghiên cứu khoa học lâu dài.

Gần đây, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường ngỏ ý muốn ông nhượng lại bộ sưu tập bản đồ cổ cho Nhà nước nhưng nhà nghiên cứu lão thành vẫn còn do dự. Ông bảo rằng, việc chuyển nhượng bản đồ cổ, kể "cả đám đồ cổ" cũng như các công trình của ông cho Nhà nước là việc dễ dàng nhất ông có thể làm được, nhưng công trình nghiên cứu về thềm lục địa, biển Đông, hải đảo Việt Nam của ông chỉ là một phần bé nhỏ.

Hiện tại, vẫn còn nhiều công trình khác còn dang dở. Làm thế nào để có người tiếp tục theo đuổi những công trình này, làm thế nào để có thêm nhiều người mới với nhiều công trình nghiên cứu mới và phát huy được hiệu quả của các hiện vật trong công tác khoa học mới là điều ông trăn trở nhất. Riêng với cuộc triển lãm ngày 23/6, ông hy vọng sẽ "có ai đó" chú ý và những tấm bản đồ cổ này sẽ ít nhiều giúp ích được những người nghiên cứu khoa học khác


Ngọc Nguyễn

http://www.baomoi.com/Home/KhoaHoc-TuNhien/cand.com.vn/Giai-ma-lich-su-bang-ban-do-co-Viet-Nam/4449461.epi

Khoa học và nhân văn


Cao Huy Thuần

Khả năng gì là cần thiết cho người đi học ngày nay? Biết đối phó với tình thế, biết phán đoán, biết giải quyết vấn đề, biết xử lý thông tin, biết làm việc tập thể… nghĩa là những khả năng đòi hỏi phải có kiến thức đa ngành. Kỳ lạ, ngày càng có nhiều người lên tiếng: những môn học làm phát triển khả năng ấy là những môn khoa học xã hội và nhân văn. Xin nói rõ: khoa học mà tôi muốn nói ở đây là khoa học căn bản.

Dùng kiến thức khoa học để khuếch trương phát minh công nghệ dĩ nhiên là cần thiết, nhưng sự giàu mạnh của một nước không phải nằm ở mức đó: nó nằm ở nơi khoa học căn bản, nghiên cứu căn bản.

Lúc nhỏ, tôi đã từng học: nước ta có rừng vàng biển bạc. Ngày nay, đào dưới đất lên để tìm vàng là thái độ của một nước cam tâm tụt hậu. Vàng, nằm ở trong đầu. Một nước hưng hay vong là tùy ở giáo dục của nước đó biết tìm vàng ở đâu, biết nâng cao đam mê khoa học nơi những đầu óc non trẻ lên lý tưởng nghiên cứu căn bản. Mà muốn làm nghiên cứu căn bản, người đi học phải nắm vững lý thuyết. “Không có gì thực tiễn hơn một lý thuyết tốt”, đó là câu nói của một triết gia, Hans Albert. Tại sao? Tại vì “không có lý thuyết, thực tiễn chỉ là lặp đi lặp lại, do thói quen cố định mà làm. Chỉ lý thuyết mới thúc đẩy và làm phát triển óc sáng tạo”. Đó là câu nói của một nhà khoa học, Pasteur.

“Một xã hội phải đi trên hai chân: một chân là khoa học và công nghệ, một chân là văn hóa. Và dĩ nhiên xã hội phải có khả năng vận động cả hai chân. Thật vậy, không có một xã hội hiện đại nào chỉ thuần là văn hóa: xã hội nào cũng dựa trên khoa học và công nghệ. Nhưng một xã hội chỉ dựa trên công nghệ, trên một công nghệ thiếu suy tư, cắt đứt với văn hóa, trên một công nghệ tự nó duy nhất trở thành cứu cánh của chính nó, không thể hoạt động tốt được”.

Tôi vừa bắc chiếc cầu giữa triết học và khoa học. Tiếp theo đây là chiếc cầu giữa khoa học và văn chương mà một nhà bác học danh tiếng, Henri Poincaré (1854-1912) đã mời các nhà giáo và các em học sinh bước qua trong một bài diễn văn nổi tiếng mà tôi rất tiếc chỉ có thể trích vài câu:
“Ai cũng đồng ý rằng giáo dục văn chương, nếu hiểu cho đúng, nghĩa là tước bỏ đi hết cái vỏ ngoài đạo mạo và thông thái vô dụng, là thích hợp nhất để phát triển trong ta đầu óc tinh tế. Và bởi vì đầu óc tinh tế là cần thiết cho mọi người, bởi vì ai cũng phải sống, người ta kết luận rằng văn hóa, văn chương, là cần thiết cho các nhà bác học cũng như cho tất cả mọi người. Thế nhưng, thông thường người ta chỉ nghĩ rằng mọi người đều cần văn chương để trở thành người chứ không phải để trở thành nhà bác học, và chính đó là sai lầm” [1].

Văn chương không làm ra sản phẩm kinh tế, không biến chữ thành tiền trong chớp mắt; nghiên cứu khoa học căn bản cũng vậy. Nhưng có người học trò nào học khoa học, khi đã đam mê, mà không mơ ước theo đuổi khoa học với tinh thần vị khoa học? Có ông thầy nào, đam mê khoa học, mà không khuyên nhủ người học trò ấy vươn cao nhìn xa? Văn chương có lợi gì cho người học trò ấy chăng? Hãy nghe tiếp Poincaré: “Nhà bác học không được quyến luyến với những công trình có kết quả thực tiễn; ông ta chắc sẽ đạt được thôi, nhưng ông phải xem đó là phần phụ trội, không nhắm đến mà có. Ông không được bao giờ quên rằng đối tượng đặc biệt mà ông nghiên cứu chỉ là một phần của một toàn bộ vượt quá đối tượng kia đến vô tận vô biên, và lòng yêu thích cùng tính tò mò về cái toàn bộ ấy mới là động cơ duy nhất của công việc ông làm. Khoa học đã có những ứng dụng tuyệt vời, nhưng khoa học mà chỉ có trước mắt những ứng dụng mà thôi không phải là khoa học, chỉ là bếp núc. Không có một khoa học nào khác khoa học vô vị lợi. Phải lên cao hơn nữa, và lúc nào cũng phải lên cao hơn, để bao giờ cũng nhìn thấy xa hơn và không quyến luyến gì lâu ở dọc đường. Người leo núi chân chính bao giờ cũng xem đỉnh núi vừa mới leo tới như là chỗ gác chân dẫn đến một đỉnh núi khác cao hơn. Nhà bác học phải có bàn chân của người miền núi, và nhất là phải có trái tim của người miền núi. Đó là tinh thần phải hướng dẫn nhà bác học. Tinh thần đó, chính là tinh thần ngày xưa đã thổi trên đất Hy Lạp và đã làm nảy sinh ra những nhà thi sĩ và những nhà tư tưởng. Trong giáo dục cổ điển của ta, tôi không biết cái gì còn phảng phất linh hồn Hy Lạp ngày xưa, tôi không biết cái gì khiến ta luôn luôn nhìn lên cao. Và cái đó thật quý báu cho nhà bác học hơn là đọc hàng trăm pho sách về hình học” [2].

Đó là lời của một nhà bác học ở đầu thế kỷ 20. Tôi trích thêm một câu nói khác nữa, rất ngắn, vài chữ thôi, và tôi sẽ nói là của ai: “Tưởng tượng cần thiết hơn là kiến thức”. Nếu người nói câu đó không phải là Einstein thì chắc ta đọc qua rồi bỏ, cho rằng ai đó nói gàn. Nhưng tác giả đã là Einstein thì ta phải suy nghĩ. Einstein muốn nói đến ảnh hưởng của sáng tạo - creativity - trên chính cách vận dụng kiến thức. Sáng tạo, đó là khả năng thoát ra khỏi những công thức cũ, mở ra những con đường mới, để trả lời những thách thức mới, khả năng tạo ra những ý tưởng mới, khái niệm mới, hoặc nối kết những ý tưởng và những khái niệm đã có rồi nhưng chưa liên hệ được với nhau. Tại sao tưởng tượng góp phần vào sáng tạo? Tôi mượn câu trả lời từ một triết gia, Michel Serres: tại vì tưởng tượng là một trong ba năng khiếu làm nên cái đầu của con người cùng với hai năng khiếu khác là ký ức và lý trí [3]. Và cái gì làm tưởng tượng bay bổng nếu không phải là nghệ thuật, văn chương? Câu nói của Einstein khiến ta phải chợt nghĩ lại: những người có óc sáng tạo nhất, nghĩa là những người biết nối kết tài tình nhất giữa những ý tưởng, phải chăng chính là những nhà khoa học! Bây giờ tôi mượn lời của một nhà vật lý hiện đang còn làm việc, Etienne Klein. Ông nói: Không có gì khác biệt hơn giữa cách làm việc của khoa học và cách làm việc của nhân văn. Một đằng, triết học chẳng hạn, thiên về thuần suy tưởng, thuần khái niệm; một đằng, khoa học chú tâm vào lý thuyết và thực nghiệm. Vậy mà: “Vậy mà, dù khác nhau đến thế, cả hai kín đáo, bí mật, chuyện trò qua lại với nhau. Vài câu hỏi mà khoa học đặt ra, nhất là những câu hỏi thực sự căn bản, có điều này lôi cuốn như thôi miên: nó vượt ra ngoài khung khổ của riêng khoa học. Nó bắt buộc phải mở toang ra những cửa sổ. Và không khí mát rượi bất chợt tràn vào, hân hoan tràn vào. Nhất là không khí của triết lý. Lúc đó, toàn bộ tư tưởng được tức thời động viên” [4].

Một vài tiến bộ khoa học (thuyết vật lý lượng tử, thuyết tương đối…) buộc người làm khoa học cũng như triết gia phải xét lại suy nghĩ của mình, phải mở ra những chiều hướng suy nghĩ mới, phải thay đổi mũi nhọn tấn công. Nhưng: “Nhưng còn phải có văn hóa; phải có văn hóa, trước là để có thể dò dẫm tìm ra, sau là để khai triển” [5]. Còn văn chương? “Khoa học và văn chương cứ bị đem ra để đối kháng nhau: một bên, người ta bảo thế là chính xác, là khô khan, là khách quan; một bên là tình cảm, là đời sống, là chủ quan. Thực ra, hai cách tương quan đó với thế giới không nên đối chọi nhau, mà nối kết với nhau” [6].

Tôi không muốn mượn những câu nói gì cao siêu từ các nhà khoa học. Nói cao siêu để chẳng thực hiện được gì trong hoàn cảnh của đất nước ta chỉ làm cái chuyện vô ích như thêu hoa trên giẻ rách. Cho nên tôi mượn thêm từ nhà vật lý này một câu nói bình dị, ai nói cũng được, bình dị như một chân lý hiển nhiên: “Một xã hội phải đi trên hai chân: một chân là khoa học và công nghệ, một chân là văn hóa. Và dĩ nhiên xã hội phải có khả năng vận động cả hai chân. Thật vậy, không có một xã hội hiện đại nào chỉ thuần là văn hóa: xã hội nào cũng dựa trên khoa học và công nghệ. Nhưng một xã hội chỉ dựa trên công nghệ, trên một công nghệ thiếu suy tư, cắt đứt với văn hóa, trên một công nghệ tự nó duy nhất trở thành cứu cánh của chính nó, không thể hoạt động tốt được” [7].

(Trích tham luận tại hội thảo “Đại học nào cho Việt Nam ở thế kỷ 21?”, ĐH Hoa Sen, TP HCM, 2009.)

Cao Huy Thuần

Tia sáng, 14/06/2010

------------------
[1-3] Henri Poincaré, Les Sciences et les Humanités (Conférence pour la “Ligue pour la culture française”. Có thể đọc trên mạng:

http://www.acnancymetz.fr/enseign/philo/textesph/LESSCIENCESETLESHUMANITES.pdf
[4-7]. Etienne Klein, Sciences et humanités: des jambes à articuler,

http://www.snes. edu/IMG/pdf/etienne_klein_-_jrd_humanites.pdf

Nguồn: http://www.hiendai.edu.vn/danhmuc.php?cat=5&post=54

Sao vẫn còn mơ Quốc văn giáo khoa thư?

Phạm Toàn

Trong nỗi thất vọng đối với Cải cách Giáo dục và đặc biệt đối với việc dạy Văn ở trường phổ thông, nhiều người từng trải qua nền Giáo dục xưa thường bâng khuâng quay về với Quốc văn giáo khoa thư (QVGKT) và thấy sao mà nó đáng lưu luyến thế! Thực ra, đó là một cuốn sách giáo khoa tầm thường, sai lầm tệ hại về khoa học. Điều đáng nêu thành câu hỏi, ấy là tại sao sách đó lại “thành công” trong lòng nhiều cựu sinh viên?


Quốc văn giáo khoa thư?

Theo mẫu cuốn sách Le Livre Unique de Francais dạy tiếng Pháp bậc Tiểu học cho dân thuộc địa, QVGKT là sách dạy tiếng Việt bậc Tiểu học(1) cho học sinh Việt Nam thời Pháp thuộc. Theo mẫu sách tiếng Tây, sách tiếng Ta này cũng dùng văn chương để “chuyên chở” ngữ pháp, cũng dùng chủ điểm để cung cấp từ ngữ, cũng dùng cách đặt câu để tập viết bài văn, và cũng thông qua phần Văn chương để “kết hợp” đem đến cho học sinh các kiến thức Lịch sử, Đạo đức, Địa lý, Khoa học thường thức hoặc Văn hoá...

Cấu tạo mỗi bài trong sách đó đều như sau :

- Bài đọc, là một bài văn mở đầu dùng cho tập đọc và chính tả; (thí dụ, bài 1 có bài khoá “Tràng học vui”).

- Dưới bài đọc có phần Giải nghĩa những từ coi là khó đối với học sinh; (thí dụ, bài 1 giải nghĩa từ “đánh bóng” – chỉ việc học sinh dùng lá chuối khô đánh cho bàn học bóng nước lên).

- Bài tập, là một hỗn hợp ngữ pháp gồm có:

+ Học tiếng (cung cấp từ cho học sinh); (thí dụ, cũng trong bài 1, cung cấp các từ nhà gạch, mái ngói, cửa chớp, cửa kính, bàn ghế, bản đồ, sách vở, thầy giáo, học trò, tràng học.

+ Tiếp đó là phần Làm văn (có bài lại thay đổi đề mục thành Đặt câu), cho các câu hỏi để học sinh trả lời nói và viết; (thí dụ, cũng trong bài 1, cho học sinh trả lời các câu hỏi Nhà tràng làm bằng gì? Cửa ngõ thế nào? Trong các lớp học, trông thấy những gì? Sao ta nên bảo nhau đi học?

+ Cuối trang sách có một câu ghi nhớ mang tính chất dặn dò, răn dạy, khuyên lơn; (thí dụ, cũng trong bài 1, cho học sinh ghi nhớ Ta nên bảo nhau đi học.

Còn cấu tạo chung cả cuốn sách ra sao? Trích mấy đề mục sau có thể giúp ta nhận ra cấu trúc đó.

Bài Tên Bài Nội dung kèm
1
4
5
8
9
18
28
37
51
56
60
68
80
81
Trường học vui
Lịch sử nước ta
Khuyên hiếu đễ
Làng tôi
Chọn bạn mà chơi
Bệnh ghẻ
Thợ làm nhà
Bữa cơm ngon
Học thuộc lòng
Đứa bé và con mèo
Một cái thư
Lý trưởng làng ta
Gừng và riềng
Chuyện ông Tử Lộ
Nên bảo nhau đi học
Phải hiểu biết lịch sử đất nước
Phải hết lòng thờ cha mẹ
Phải yêu làng nước mình
Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng
Phải giữ vệ sinh thân thể
Cách thức làm một ngôi nhà
Trọng tình cảm gia đình
Phương pháp học tập
Phải thương yêu loài vật
Cách viết thư và gửi thư
Tổ chức chính quyền ở làng xã
Khoa học thường thức
Thờ phụng cha mẹ

Bài khoá số 51 về “phương pháp học tập” cần được trích nguyên xi hẳn sẽ giúp ta tự đánh tan mọi ảo tưởng về cuốn QVGKT kia.

Thằng Bút học bài ngụ ngôn. Nó đọc cả bài hai ba lượt, rất có ý và nhận nghĩa cho thật hiểu.

Nó đọc câu đầu, rồi không nhìn vào sách mà đọc lại. Nó đọc lại thong thả, rõ ràng, không sai chút nào.

Nó đọc sang câu thứ hai. Thuộc rồi, đọc lại cả với câu đầu. Rồi nó học luôn như thế cho đến câu cuối cùng.

Sau Bút đọc lại cả bài, năm bảy bận. Lúc bấy giờ, gấp sách lại, đọc làu làu, chắc mai vào lớp không sợ ngắc ngứ (trúc trắc).

Nghịch lý ở đời lắm khi như thế, nhiều khi con người ta hoài cổ không vì cái Xưa là cái đẹp lý tưởng, mà vì người ta bất bình với cái Nay, và rất có thể cái Xưa có nhỉnh hơn so với cái Nay. Thì ở trường hợp QVGKT cũng thế, người ta khen sách này là nó có văn. Bài trích chuyện thằng Bút trên có văn hay không, xin tuỳ bạn xét!

Lưu luyến Quốc văn giáo khoa thư?

Trong vài bài khác của QVGKT thực ra có một số câu văn mượt mà thường vẫn được nhiều người nhắc lại thuộc lòng. Ai bảo chăn trâu là khổ? Ôi cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!... Nhưng chỉ mấy câu mượt mà đã đủ là văn chưa? Mấy câu lục bát rao bán thuốc của Xuân Tóc Đỏ đã đủ thành áng văn chương chưa? Câu hỏi nêu ra tự nó đã hàm chứa câu trả lời phủ định. Vậy có lẽ nên hỏi cách khác, còn cần phải thế nào nữa kia mới là văn?

Vậy thì, Văn hời Văn hỡi Văn ơi... mi ở đâu?

Hỏi “tiền anh để đâu?” dễ trả lời. Nó ở trong túi, trong rương, nó nằm trong tài khoản ngân hàng. Khi con Hổ hỏi con Trâu “trí khôn mày để đâu?” thì đã là một câu hỏi quá khó. Nhà tâm lý học hiện đại người Mỹ Howard Gardner (2) đi gần hết đời mới làm le lói được cấu tạo của bảy thành phần trí khôn người, mới chữa được cách nhìn của con Trâu và con Hổ muốn trực quan nhòm thấy cái trí khôn tròn trịa một khối.

Cũng theo cách nhìn trực quan, rành rành Văn dùng ở chốn học đường nằm ở trong cuốn sách giáo khoa chứa đựng những bài thơ và bài văn nào đó. Tác động của những cuốn sách đó đến học sinh đương thời ra sao, hẳn chẳng còn là điều bí mật với mọi người. Vả chăng Văn cũng không nằm trong những cuốn sách đó. Cũng giống như chuyện Hạnh phúc, chỉ bằng cách nhìn trực quan, thì hẳn là nằm ở chỗ chàng và nàng và con đi chơi sắm sanh sốp-pinh. Thế rồi đánh đùng một cái, lại đâm đơn li dị. Vậy nếu không trực quan hời hợt, thì Hạnh phúc cũng như Văn chắc là phải nằm ở một chỗ nào khác nữa kia!

Thay vì hỏi Văn nằm ở đâu, nếu hỏi cách khác sẽ dễ trả lời hơn, cái Tâm linh nghệ thuật hoặc cái năng lực Văn mang tính người bộc lộ ra sao, bộc lộ ở đâu và bộc lộ như thế nào? Hình như ta sẽ thấy cái năng lực người mang chất văn ấy nằm trong khả năng con người có được một sự cộng hưởng. Cộng hưởng cái gì và cộng hưởng diễn ra thế nào? Thế giới thì quá to, nhưng sẽ tồn tại cái thế giới đó một khi trong tâm linh con người có được sự cộng hưởng nhỏ bé của cái to tát kia. Cuộc đời quá bề bộn, nhưng nó sẽ gọn gàng giản dị đến vô cùng một khi có được phần cộng hưởng cái bề bộn cuộc đời trong lòng một con người. Cuốn sách, bài thơ, bức tranh, vở kịch, điệu nhạc... là những cơ hội vừa huấn luyện năng lực cộng hưởng và đồng thời giúp con người bộc lộ năng lực cộng hưởng của mình. Tiếng cộng hưởng đó phong phú vô cùng vì có thể diễn ra khác nhau tuỳ theo tạng từng con người và cũng tuỳ theo từng cơ may. Hình như Antoine de Saint Exupéry đã nói hộ chúng ta điều đó khi viết về chú Hoàng tử mộng mơ... Chú ngơ ngẩn gọi núi Núi ơi... và tiếng núi vang vọng đáp lại nhiều lần ơi... ơi... ơi... Chú thẫn thờ hỏi nữa Núi nghe rõ tôi không?... và tiếng núi cũng vang vọng đáp lại nhiều lần Không... Không... Không... Những tiếng “ơi” hy vọng và cả những tiếng “không” tuyệt vọng thế ấy cũng đủ thoả mãn cái tâm linh nghệ thuật ở trong mỗi con người.

Nhiều người là học trò thời QVGKT chỉ được học tiếng Việt tiểu học trình độ cỡ thằng Bút. Lên tiếp bậc Trung học họ học toàn tiếng Nước mẹ, càng quên tiếng Mẹ đẻ càng nhiều cơ may thăng tiến. Vậy tại sao lại có nhiều người giỏi tiếng Việt? Minh hoạ thú vị là những nhà thơ thời Pháp thuộc. Trong Bên sông đưa khách, Thế Lữ ngắt câu theo một ngữ pháp khác hẳn với thơ cổ điển Việt Nam:

Thuyền khách đi rồi. Tôi vẫn cho

Lòng tôi theo lái tới phương mô?

Cũng vẫn Thế Lữ, trong Cây đàn muôn điệu, trong một hơi dài với nhiều phần phụ, đã tạo ra một câu đúng ngữ pháp chia thành năm câu thơ tuyệt vời:

Mượn lấy bút nàng Ly Tao, tôi vẽ,

Và mượn cây đàn ngàn phiếm, tôi ca

Vẻ đẹp u trầm, đắm đuối hay ngây thơ,

Cũng như vẻ đẹp cao siêu, hùng tráng

Của non nước, của thi văn, tư tưởng.

Năng lực ngữ pháp thì vậy, còn năng lực Văn? Vô số các bậc trí giả nước nhà cũng phải tự học Văn ngoài nhà trường hoặc qua rung cảm văn chương dân tộc Pháp. Chứ thực ra tầm cỡ QVGKT sao có đủ sức huấn luyện học sinh có những cộng hưởng tâm linh nhờ văn chương? Những cộng hưởng kia có được là do tự học, do tự tạo ra trong gia đình và trong đời vào một thời kỳ dẫu sao cũng ít biến động. Sau rồi, chẳng biết vì khiêm nhường hay vì tức giận với thực tại, chư vị cứ đổ tiếng tốt cho sách của ông đốc học Trần Trọng Kim... Và chư vị cứ phát biểu như thể xui dại con cháu quay về với QVGKT trong khi lẽ ra phải bắt tay làm ra hẳn một cái khác mới hơn, đúng hơn, hợp thời đại hơn...

Phạm Toàn

-----------------------------------

(1) Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận, Quốc văn giáo khoa thư (sách tập đọc và tập viết) lớp Dự bị, Nha Học chính Đông pháp xuất bản, 1935. Bạn đọc có thể mua sách Quốc văn giáo khoa thư do nhà xuất bản Thế giới tái bản, Hà Nội, 2002, in song ngữ Việt Pháp, cho thoả nhớ mong...

(2) Howard Gardner là tác giả của thuyết Trí khôn nhiều thành phần (Theory of Multiple Intelligence) cho rằng trí khôn con người gồm có các thành phần sau: trí khôn ngôn ngữ, trí khôn lôgic-Toán, trí khôn âm nhạc, trí khôn không gian, trí khôn cơ thể dạng động, trí khôn cá nhân hướng nội, trí khôn cá nhân hướng ngoại. Một con người không nhất thiết phải có đủ các thành phần trí khôn nói trên, và chính vì thế nhà sư phạm cần tổ chức việc học của con em theo nhiều cách thức khác nhau. Xem: Cơ cấu trí khôn, Phạm Toàn dịch, Giáo dục xuất bản lần đầu 1997, tái bản 1998, 450 trang. (Nxb. Tri thức sắp tái bản lần thứ 2, 2010 – chú thích của Hiendai.edu.vn).

Nguồn: http://www.hiendai.edu.vn/danhmuc.php?cat=5&post=55

Việt Nam giữ thăng bằng giữa Mỹ và Trung Quốc


Biểu ngữ 35 năm kết thúc chiến tranh chống Mỹ

Việt Nam vừa kỷ niệm 35 năm kết thúc chiến tranh chống Mỹ


"Bắc Kinh đang dồn Việt Nam vào thế phải tìm kiếm ảnh hưởng trong khu vực" với các hoạt động ngoại giao - quốc phòng của Hà Nội gần đây được các quốc gia láng giềng theo dõi chặt.

Báo Thái Lan tờ Bangkok Post vừa đăng bài của tác giả Luke Hunt phân tích quan hệ Việt Nam - Trung Quốc sau các diễn biến mới nhất.

Tác giả, một nhà báo theo dõi tình hình Đông Nam Á nhiều năm nay, nhận định rằng Việt Nam đang tăng cường quan hệ quân sự với Nga và Hoa Kỳ phần nào để đối phó với Trung Quốc nhưng vì kỳ Đại hội Đảng sắp tới nên bước đi tiếp là gì thì chưa rõ.

Theo ông, việc mở rộng quân sự của Bắc Kinh đang dồn Việt Nam vào thế phải tìm kiếm ảnh hưởng trong khu vực và giải tỏa quan ngại của những người chống Trung Quốc ở trong nước.

"Để làm được việc đó, Hà Nội đã tăng cường quốc phòng thông qua một loạt thỏa thuận mua bán vũ khí với Nga trị giá nhiều tỷ đôla ký hồi tháng 12 năm ngoái tại Moscow. Trong đó có sáu tàu ngầm hạng kilo và tới 20 chiến đấu cơ Su-30".

Bài báo nói hợp đồng này chưa hẳn sẽ được thanh toán hoàn toàn bằng tiền mặt vì Việt Nam cũng đang mời chào Nga tham gia vào lĩnh vực dầu khí của mình.

Tuy nhiên điều chắc chắn là những động thái đó không thể làm hài lòng Trung Quốc, nước ông Hunt gọi là "láng giềng giàu có nhất và kẻ thù lâu đời nhất" của Việt Nam.

Tiếp ngay sau đó, vào tháng Ba, tàu chiến Hoa Kỳ USNS Richard E Byrd có chuyến thăm lặng lẽ nhưng mang tính lịch sử tới Việt Nam, vì tàu đã đậu cảng sửa chữa trong 16 ngày liền.

Thông điệp gửi tới cho Bắc Kinh thật rõ ràng, rằng Trung Quốc không thể tự cho mình quyền làm chủ Biển Đông.

Keith Loveard từ hãng tư vấn về an ninh khu vực Concord Consulting, trụ sở ở Jakarta, nói Bắc Kinh chắc không mấy ngỡ ngàng trước các động thái của Việt Nam.

Theo tác giả Luke Hunt, phe thân Trung Quốc trong ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam khá mạnh và có đầu óc thực tế.

Phe thân Trung Quốc trong ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam khá mạnh và có đầu óc thực tế

Nhà báo Luke Hunt

Thương mại song phương Việt-Trung dự tính sẽ đạt 25 tỷ đôla Mỹ trong năm 2010, nhưng cán cân thương mại nghiêng hẳn về phía Trung Quốc.

Thâm hụt thương mại của Việt Nam trong buôn bán với Trung Quốc lên tới 11 tỷ đôla trong năm ngoái, cho thấy sự thống lĩnh của Trung Quốc.

Màn thăng bằng tinh xảo

Gavin Greenwood, phân tích gia về an ninh khu vực tại công ty Allan & Associates đặt tại Hồng Kông, nói rằng nhiều người Việt Nam cho là chính quyền đang "phản bội lại quá khứ" để theo đuổi một số thành tựu về kinh tế mà nhiều người cho rằng chẳng mang lại gì tốt đẹp cho Việt Nam về mặt lâu dài.

Chủ tịch Quân ủy Trung ương TQ Hồ Cẩm Đào

Các nhà quan sát đang đánh giá ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc tại Việt Nam


Ông Greenwood cũng nhận xét rằng từ năm 2007, khi chính phủ Hà Nội trao thầu dự án khai thác bauxite cho công ty Trung Quốc Chinalco, tinh thần chống Trung Quốc lên cao nhanh chóng ở Việt Nam.

Đại tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp, người mà cho tới nay vẫn được giới phân tích nước ngoài cho là nhân vật có ảnh hưởng đặc biệt trong sinh hoạt chính trị Việt Nam, đã chỉ huy 'một dàn đồng ca' các cựu chiến binh chỉ trích chính phủ quy thuận Bắc Kinh và chủ nghĩa tư bản.

Bài báo nói 'dàn đồng ca' này đang lớn tiếng hơn trước trong thời gian chuẩn bị Đại hội Đảng lần thứ XI dự kiến sẽ họp vào đầu 2011.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nhận thức được điều này, và theo phân tích của ông Greenwood, thời điểm để lãnh đạo Việt Nam ký hợp đồng mua vũ khí của Nga có thể phản ánh quan ngại chính trị nội địa hơn là về nhu cầu quân sự thực tế.

Việc tăng cường quân đội trong năm trước Đại hội, theo ông, được phe thân Trung Quốc tính toán là sẽ trấn an các giới chỉ trích, làm ra vẻ Việt Nam đang mạnh dạn đối đầu với Bắc Kinh.

Ông cũng nói đây là chiến lược Việt Nam đã sử dụng nhiều lần trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, tuy kịch bản nay có thay đổi đi đôi chút với vai trò của Mỹ trở lại vùng.

Chuyên gia Việt Nam tại Học viện Quốc phòng Australia, Giáo sư Carl Thayer thì nói nỗ lực quan hệ với cả hai phía của Việt Nam là một màn thăng bằng tinh xảo.

"Việt Nam vừa tiến hành đối thoại cao cấp về chính trị - quân sự với Hoa Kỳ. Nhưng trước đó, Hà Ṇôi lại đón tiếp một đoàn cao cấp của Quân đội Trung Quốc".

Ông Thayer cho rằng phe thân Trung Quốc ở Việt Nam không phản đối quan hệ thương mại - kinh tế với Mỹ và các tàu Mỹ tới thăm Việt Nam đều không thuộc loại trực tiếp tham chiến.

Thế nhưng nếu Hoa Kỳ tiến bước nữa thì sẽ nảy sinh những kịch bản mới phải cân nhắc.

Hoa Kỳ đã đề cập khả năng ký với Việt Nam thỏa thuận về cung cấp dịch vụ Acquisition and Cross Service Agreement (ASCA), cho phép trao đổi dịch vụ hậu cần và cung ứng.

Loại thỏa thuận này Mỹ thường chỉ ký với các nước đồng minh.

Điều chưa rõ là Trung Quốc sẽ phản ứng thế nào khi các tàu Mỹ thường xuyên vào sửa chữa và sử dụng dịch vụ ở cảng biển của Việt Nam.

Chiến hạm của Hoa Kỳ-hình tư liệu

Chưa rõ sự hiện diện của hải quân Mỹ ở Việt Nam sẽ có tác động đến chính trị vùng ra sao.

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/06/100622_vietnam_china_bkp.shtml

Trung Quốc và Việt Nam nhắm tới việc hợp tác tư pháp

Tưởng đi học đâu cho dân đỡ khổ, lại chạy qua học TQ. Học cách cải cách hệ thống tư pháp từ một nước cho xe tăng cán chết sinh viên biểu tình, học cách bịt miệng dân sao cho chuyên nghiệp hơn. Học cách bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ từ một nước chuyên làm hàng nhái!
TH

Thứ Tư, 23 tháng 6 2010

Hình: photos.com

Trung Quốc và Việt Nam đồng ý tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi và hợp tác giữa các cơ quan tư pháp giữa hai nước nhằm thúc đẩy cho việc cải cách hệ thống tư pháp.

Bản tin của Tân Hoa Xã cho biết thỏa thuận vừa kể đã đạt được hôm thứ ba tại Bắc Kinh giữa ông Châu Vĩnh Khương, Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị của đảng Cộng sản Trung Quốc, và ông Trương Hòa Bình, Chánh án Tòa án Nhân dân Việt Nam.

Bản tin trích lời ông Châu Vĩnh Khương nói rằng Trung Quốc đang ra sức cải cách hệ thống tư pháp và đặc biệt chú tâm tới việc xây dựng một đội ngũ nhân viên tư pháp chất lượng cao, và Trung Quốc sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với phía Việt Nam.

Ông Châu nói thêm rằng nhiều vụ tranh chấp xã hội phát sinh từ sự mất cân bằng trong quá trình phát triển ở Trung Quốc đang dựa vào cơ quan tư pháp để giải quyết, và việc giải quyết mỗi một vụ án một cách công bằng tạo ra những thách thức rất lớn cho các tòa án.

Về phần mình, ông Trương Hòa Bình nói rằng ông hy vọng tăng cường hợp tác giữa các cơ quan tư pháp của hai nước, gia tăng công cuộc trao đổi nhân sự và đào tạo, và học hỏi kinh nghiệm thành công của Trung Quốc trong việc cải cách hệ thống tư pháp và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Nguồn: Xinhua, Sina.com

http://www1.voanews.com/vietnamese/news/vietnam/china-vietnam-judicial-06-23-2010-96971654.html

Nhu cầu dẫn đến bằng giả từ trường dỏm

Nguyễn Văn Tuấn - Viện Nghiên cứu Garvan

Câu chuyện chung quanh sự việc quan chức văn hóa một tỉnh có bằng tiến sĩ nhưng không biết tiếng Anh, thực chất là bằng dỏm là một hệ quả của sự nghịch lí về chức vụ và bằng cấp ở nước ta.

Dư luận công chúng bức xúc về trường hợp một quan chức văn hóa của một tỉnh có bằng tiến sĩ nhưng không biết tiếng Anh. Thật ra, bằng tiến sĩ của vị quan chức này là một bằng dỏm từ một cơ sở kinh doanh bằng cấp bên Mỹ, và do đó không có giá trị học thuật gì cả.

Nghịch lí tạo nhu cầu

Ở nước ta đang tồn tại một nghịch lí về chức vụ và bằng cấp. Theo logic thông thường và qui trình bao đời nay ở nước ta và trên thế giới, người có năng lực chuyên môn (thể hiện qua kinh nghiệm và bằng cấp) được bổ nhiệm vào các chức vụ công quyền thích hợp.

Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta có tình trạng đi ngược lại quy trình trên: bổ nhiệm trước, rồi hợp thức hóa sau. Thật vậy, trong thực tế, đã có biết bao trường hợp người được chỉ định (hay "cơ cấu") vào các chức vụ công quyền dù chưa có bằng cấp thích hợp. Điều này dẫn đến một hệ quả là người được bổ nhiệm phải hợp thức hóa bằng cách "chạy" bằng cấp.

Đây là một nghịch lí phổ biến ở nước ta ngày nay, nhưng rất hiếm thấy trên thế giới.

Có thể nói rằng nhu cầu bằng cấp rất lớn ở nước ta. Trong bối cảnh kinh tế - xã hội phát triển nhanh đặt ra nhu cầu cho rất nhiều vị trí công tác trong hệ thống quản lí và công quyền. Hàng năm, có lẽ có hàng vạn người được bổ nhiệm vào các chức vụ hành chính và quản lí, dù họ chưa có bằng cấp thích hợp, và dẫn đến nhu cầu bằng cấp. Trong nhiều trường hợp, việc hợp thức hóa bằng cấp được cấp trên khuyến khích và tạo điều kiện.

Có lẽ do nhu cầu này mà hàng trăm đại học ồ ạt ra đời trong thời gian gần đây trên khắp các tỉnh thành ở nước ta. Tình trạng này dẫn đến một hệ quả có thể đoán được là chất lượng đào tạo bị suy giảm, do thiếu thầy cô và cơ sở vật chất cho giảng dạy và thực hành. Chất lượng đào tạo xuống cấp làm cho công chúng nghi ngờ tất cả những bằng cấp xuất phát từ các đại học ở Việt Nam.

Dù muốn hay không, cũng phải ghi nhận một thực tế là người Việt chúng ta rất vọng ngoại. Tâm lí vọng ngoại nhìn người nước ngoài, nhất là người phương Tây, bằng con mắt nể phục. Từ nể phục, chúng ta xem cái gì của phương Tây hay xuất phát từ phương Tây cũng đều có giá trị hơn, có chất lượng cao hơn những gì xuất phát từ trong nước. Do đó, không ngạc nhiên khi bất cứ thời nào, những gia đình có điều kiện đều muốn gửi con em ra nước ngoài du học, lấy được một mảnh bằng với tiếng Anh hay tiếng Pháp làm chứng từ cho việc tiến thân sau này.

Trong tình hình giáo dục Việt Nam xuống cấp thê thảm và hỗn loạn như hiện nay, không ai ngạc nhiên khi thấy một làn sóng mà có người ví von là "tị nạn giáo dục" ở nước ngoài, với hàng vạn học sinh và sinh viên từ VN đang theo học tại các trường trung học và đại học ở Mĩ, Úc, Anh, Pháp, Canada, Singapore, v.v... Các quan chức Việt Nam gửi con em ra ngoài học khá nhiều.


Ảnh minh họa.


Thật ra, chính các quan chức này cũng có nhu cầu kiếm một tấm bằng từ nước ngoài để làm phương tiện thăng quan tiến chức. Tiêu biểu cho tình trạng này là quan chức ở tỉnh Phú Thọ tìm cách theo học ở Mỹ để có một học vị tiến sĩ, dù các vị này không biết tiếng Anh!

Thông tin này làm công chúng hết sức bức xúc vì họ không ngờ ở Mỹ cũng có những trường đào tạo tiến sĩ mà nghiên cứu sinh không biết tiếng Anh!

Nhận dạng trường dỏm

Nhưng trong thực tế, thị trường giáo dục ở nước ngoài cũng có tình trạng vàng thau lẫn lộn. Bên cạnh những trường nổi tiếng như Harvard, Stanford, Yale, Cornell, Princeton, Columbia, v.v... cũng có hàng trăm trường xoàng xĩnh.

Nguy hiểm hơn, bên cạnh những trường xoàng xĩnh, còn có hàng ngàn cơ sở thương mại giáo dục xuất hiện dưới danh xưng "đại học" chuyên bán bằng cấp. Đây là những "trường" dỏm, những trường mà chẳng có một tổ chức kiểm định giáo dục nào trên thế giới công nhận.

Những cơ sở kinh doanh bằng cấp (tức trường dỏm) thường có một số đặc điểm chính sau đây:

Thứ nhất, họ có những tên giống như trường thật. Vì để đánh lạc hướng người tìm hiểu và "lập lờ đánh lận con đen", nên các cơ sở buôn bán bằng cấp thường lấy những tên mà đọc lên có âm tiết giống như các trường nổi tiếng. Chẳng hạn như thay vì đại học Harvard, họ nhái tên là đại học Horvard, hay đại học Harward.

Vị quan chức tỉnh Phú Thọ cho biết ông theo học tại trường đại học Nam Thái Bình Dương. "Trường" này có tên tiếng Anh là Southern Pacific University, nhái theo tên trường thật của Fiji là University of South Pacific!

Thứ hai, các cơ sở bán bằng cấp thường thay đổi địa chỉ rất thường xuyên. Chẳng hạn như trường "đại học Nam Thái Bình Dương" danh nghĩa là ở Hawaii (Mĩ), nhưng đăng kí thì ở... Malaysia! Trong thời đại internet, có rất nhiều "trường" chẳng có địa chỉ cụ thể, mà chỉ một website. Với công nghệ web và thông tin, họ có thể thiết kế một trang web "hoành tráng" giống y như trang web của trường đại học thật.

Thật vậy, có thể nói rằng trang web của các doanh nghiệp bán bằng cấp còn hoành tráng hơn nhiều so với các trang web của đại học thật ở Việt Nam!

Thứ ba, tài liệu trình bày thường sai chính tả và sai văn phạm tiếng Anh. Sự thật là những người chủ doanh nghiệp "đại học" không thạo tiếng Anh, hay xuất thân từ Phi châu. Chính vì thế mà tiếng Anh của họ có rất nhiều sai sót. Ngay cả "bằng cấp" họ cấp cũng có nhiều lỗi chính tả và văn phạm! Đương nhiên, đối với phần đông người Việt thì những lỗi này khó phát hiện.

Thứ tư, họ thường nhấn mạnh thời gian hoàn tất học rất nhanh. Thay vì phải bỏ ra 3, 4 năm để hoàn tất chương trình cử nhân, các cơ sở này quảng cáo rằng chương trình cử nhân chỉ cần... 7 ngày. Ngay cả tiến sĩ cũng chỉ cần... 1 tháng!

Bằng cấp của họ cũng rất mù mờ, không có gì là cụ thể. Thay vì gọi "cử nhân kinh tế", họ cố tình đổi thành "Cử nhân kinh tế quản trị kinh doanh" - một ngành học chẳng ai biết có ý nghĩa gì! Cố nhiên, vì đây là doanh nghiệp mua bán, nên không có vấn đề tiêu chuẩn về đầu vào và đầu ra. Bất cứ ai cũng có thể "ghi danh" theo học, miễn là có khả năng trả tiền.

Thứ năm, những "trường" dỏm này không có giáo sư, không có giảng đường, và cũng không có chương trình học. Điều này thì ai cũng có thể hiểu được, bởi vì trong thực tế, những cơ sở kinh doanh này thực chất chỉ là một nhà để xe (garage) hay một khu nho nhỏ trong phòng ngủ hay phòng khách cũng đủ để thiết lập một "đại học" dỏm.

Thời đại internet là cơ hội lí tưởng để các "đại học" dỏm này sinh sôi nảy nở. Những cơ sở thương mại này cũng chẳng khác gì những doanh nghiệp làm đồng hồ dỏm. Tức là cơ sở thương mại có đăng kí tên doanh nghiệp đàng hoàng, và hàng hóa của họ là bằng cấp.

Cũng như đồng hồ dỏm, bằng cấp dỏm của họ rất giống bằng cấp thật. Họ bán những bằng cấp từ cấp cử nhân, thạc sĩ, đến tiến sĩ, với những cái giá khác nhau. Bằng cấp càng cao, giá càng cao. Một bằng tiến sĩ có khi giá khoảng 5000 USD. Là cơ sở thương mại, nên họ cũng cạnh tranh, và trong khi cạnh tranh, họ cũng... giảm giá (discount)!

Cố nhiên, bằng cấp của họ không được ai công nhận. Khách hàng của họ thường là những người nhẹ dạ từ các nước thiếu thông tin và kém tiếng Anh như nước ta.

Học tiến sĩ ở Mỹ nhưng không biết tiếng Anh

Trong thực tế, đã có không ít người ở nước ta là nạn nhân của các cơ sở bán bằng cấp. Hai hôm nay, dư luận công chúng bức xúc về trường hợp giám đốc sở văn hóa tỉnh Phú Thọ lấy học vị tiến sĩ ở Mỹ nhưng không biết tiếng Anh. Vị quan chức này cho biết ông theo học tại trường "Đại học Nam Thái Bình Dương của Hoa Kỳ". Tuy nhiên, tôi e rằng vị quan chức đó là nạn nhân của một cú lường gạt.

Qua tìm hiểu, tôi được biết trường này có tên là Southern Pacific University (tên pháp lí là Southern Pacific University, Inc, a Hawaii corporation). "Trường" có hẳn một website khá hoành tráng. Tuy nhiên, theo tài liệu của Bộ Thương mại và Tiêu thụ vụ (Department of Commerce and Consumer Affairs) thì "trường" đã bị giải thể từ ngày 28/10/2003 (nguyên văn: "Although incorporated in Hawaii, SPU was based in Malaysia. SPU's Hawaii corporation was dissolved on October 28, 2003".)

Đây là một trường dỏm, và đã được đưa vào danh sách các trường dỏm. Trường này thậm chí còn được liệt kê vào danh sách scam, tức là những nơi chuyên lừa gạt người nhẹ dạ để lấy tiền bằng cách bán bằng cấp dỏm. Bằng cấp của trường Southern Pacific University không được các cơ quan kiểm định giáo dục của Mỹ công nhận.

Nói tóm lại, tôi nghĩ vị quan chức này đã bị lừa gạt và chắc tốn nhiều tiền để có cái giấy tiến sĩ đó. Tờ giấy gọi là tiến sĩ đó chỉ là chứng từ của một sự lường gạt, chứ không phải là một học vị gì cả.

Kinh doanh giáo dục không chỉ giới hạn trong việc buôn bán bằng dỏm, mà còn bao gồm buôn bán chức danh dỏm. Những chức danh hay danh xưng như "danh nhân thế giới" (Who is Who in the World), bộ óc vĩ đại, viện sĩ hàn lâm, v.v... đều có thể mua từ các nhóm kinh doanh qua mạng, thậm chí qua các tổ chức mà đọc qua tên thì có vẻ như thật. Vấn đề trở nên phức tạp khi phân biệt giữa tổ chức thật và giả.

Chẳng hạn như Viện hàn lâm khoa học New York là một tổ chức khoa học thật sự, nhưng cách họ cấp bằng "viện sĩ" thì không nên hiểu là viện sĩ mà chỉ là hội viên. Khoảng 6 năm trước đây, người viết bài này đã giải thích những khác biệt đó, nhưng rất tiếc là mãi đến nay vẫn còn nhiều người ở Việt Nam bị sa đà vào cái bẫy danh xưng và tốn tiền một cách không cần thiết.

Điều đáng nói là có cơ quan Nhà nước khuyến khích, chi tiền để nhân viên mình có được những danh xưng dỏm, những học vị dỏm đó! Trong tình trạng vàng thau lẫn lộn như hiện nay ở Việt Nam, những danh xưng tiến sĩ hay giáo sư, nhất là trong giới quan chức, càng ngày càng trở thành chuyện tiếu lâm dân gian. Nhưng nghiêm chỉnh và bình tâm mà nói, phải gọi đó là một quốc nạn giáo dục.



Lễ trao bằng tiến sĩ tại ĐHQGHN. Ảnh chỉ có tính minh họa.


Trong khoa bảng, không có phương cách gọi là "đi tắt đón đầu". Tri thức tích lũy theo thời gian chứ không thể nào một sớm một chiều mà có được. Tất cả những học vị khoa bảng hay bằng cấp nói chung là một chứng nhận về một quá trình học tập để tiếp thu kiến thức trong một thời gian dài, có khi rất dài và rất gian nan.

Tiến sĩ là một học vị cao nhất trong hệ thống giáo dục hiện đại, và người có học vị này được công chúng phương Tây kính cẩn gọi là "Doctor". Người có văn bằng đó phải trải qua một quá trình học và nghiên cứu với những thành quả được cộng đồng khoa học quốc tế công nhận. Điều cốt lõi và cũng là đặc điểm để phân loại bằng tiến sĩ với các bằng cấp khác là nghiên cứu. Không có nghiên cứu khoa học thì không thể là tiến sĩ được.

Do đó, văn bằng tiến sĩ thích hợp và giá trị cao nhất trong khoa bảng và nghiên cứu khoa học, chứ không phải trong hệ thống công quyền và quản lí hành chính.

Bằng tiến sĩ càng không phải là món hàng để người ta mua làm vật trang sức hay làm phương tiện để thăng quan tiến chức.

So với các nước trong vùng, nước ta có nhiều tiến sĩ và giáo sư. Tính đến nay, Việt Nam đã phong hàm giáo sư và phó giáo sư cho hơn 8300 người. Con số tiến sĩ còn cao gấp 4 lần con số giáo sư. Chúng ta không biết bao nhiêu tiến sĩ ở Việt Nam được cấp bởi những "trường" dỏm, nhưng chúng ta có thể nói rằng những tiến sĩ dỏm này làm cho năng suất khoa học Việt Nam thấp hơn các nước trong vùng.

Thật vậy, hàng năm Việt Nam chỉ công bố được khoảng 1000 công trình khoa học trên các tập san quốc tế, tức chỉ bằng khoảng 1/5 Thái Lan và 1/10 Singapore. Lí do đơn giản là vì Việt Nam có nhiều giáo sư và tiến sĩ không làm việc trong khoa học, mà chỉ làm quản lí và hành chính. Rất nhiều các quan chức trong các bộ của chính phủ đều có bằng tiến sĩ. Phân nửa những Bộ trưởng VN có bằng tiến sĩ. Nhưng trớ trêu thay, chỉ có khoảng ~20% giảng viên trong các đại học lớn ở VN có văn bằng tiến sĩ! Đó là một nghịch lí.

Đã đến lúc phải phục hồi qui trình tuyển dụng quan chức theo logic thông thường: dựa vào kinh nghiệm và bằng cấp đã có, chứ không nên "cơ cấu" xong rồi mới hợp thức hóa sau. Đã đến lúc phải nhận thức rằng văn bằng tiến sĩ là để nghiên cứu khoa học và giảng dạy đại học, chứ không phải là một chứng chỉ để thăng quan tiến chức.

http://www.tuanvietnam.net/2010-06-18-nhu-cau-dan-den-bang-gia-tu-truong-dom

Đơn xin việc

Đăng bởi vudongha on Tháng Sáu 23, 2010



Tên: Ha Vu
Ngày sinh: 30 tháng 4 năm 1975
Nơi sinh: thành phố Hồ Chí Minh
Học vị: Tiến sĩ tại gia
Nơi cấp bằng: Đại học Nam Thái Bình Dương

Thành tích:

Đất nước tôi có một lịch sử lâu dài và hào hùng nhất thế giới.
Đất nước tôi có nhiều anh hùng nhất thế giới.
Đất nước tôi có nhiều cô gái anh hùng nhất thế giới.
Đất nước tôi có nhiều em bé anh hùng nhất thế giới.
Đất nước tôi có nhiều bà mẹ anh hùng nhất thế giới.
Nói chung, đất nước tôi anh hùng
(đuơng nhiên, tôi sẽ là một nhân viên anh hùng)

Đất nước tôi có ba dòng thác cách mạng vũ bão nhất thế giới.
Đất nước tôi có một cha già dân tộc vĩ đại nhất thế giới
(rất tiếc đất nước chúng tôi không có được một mẹ già dân tộc
nhưng đó cũng đã nói thêm được tính vĩ đại của người)
Đất nước tôi có một đảng lãnh đạo tài ba nhất thế giới
(vì thế chúng tôi không có lý do gì để có nhiều đảng).
Đất nước tôi có một nhà nước do dân, vì dân, của dân, tận tụy như đầy tớ của nhân dân nhất thế giới.
Đất nước tôi có nhiều Đại biểu Quốc hội có IQ cao nhất của thế giới.
Lãnh đạo nước tôi có nhiều văn bằng tiến sĩ nhất thế giới.
Đất nước tôi chỉ cần làm ít nhưng có rất nhiều siêu thành quả trên cả tuyệt vời nhất
(cho nên tôi sẽ là một nhân viên đầy tính cách mạng, một lãnh đạo tài giỏi nhưng khiêm tốn, một nhân viên do công ty, vì công ty, tận tụy và mang lại nhiều siêu thành quả cho công ty).

Đất nước tôi có một nền dân chủ 99% nhân dân đi bầu tiến bộ nhất thế giới.
Đất nước tôi có một xã hội ổn định nhất thế giới.
Đất nước tôi có một nền báo chí khuôn khổ nhất thế giới.
Đất nước tôi có những con người sáng tạo nhất, cây viết cong vẫn có thể viết chữ thẳng, màu trắng vẫn vẽ thành đỏ tươi, có khả năng chui qua mọi hàng rào thấp ngang mắt cá.
(và bên cạnh đó)
Đất nước tôi có một lực lượng công an còn đảng còn mình triệt để nhất thế giới.
(vì thế tôi sẽ là một nhân viên biết nghe lời nhất)

Đất nước tôi có một đồng chí anh em to nhất thế giới.
Đất nước tôi có những quặng mỏ bô xít, những dự án khai thác rừng lớn nhất thế giới.
Đất nước tôi có nhiều tàu lạ nhất thế giới.
Thế nhưng đất nước tôi là một nước hòa bình và độc lập nhất thế giới
(suy ra tôi sẽ là nhân viên khéo léo, mềm mỏng, và biết chịu nhục giỏi nhất)

Đất nước tôi có nhiều lễ hội nhất thế giới.
Đất nước tôi có kỷ niệm 1000 năm hoành tráng nhất thế giới.
Đất nước tôi có nhiều tiệm nhậu nhất thế giới.
Đất nước tôi có nhiều quán ôm nhất thế giới.
(một dân tộc vui vẻ, hạnh phúc nhất thế giới sẽ sản sinh ra một nhân viên luôn luôn vui vẻ và hạnh phúc cho quý ngài).

Đất nước tôi có nhiều phụ nữ được đàn ông nước ngoài say mê và cưới về làm vợ nhất.
Đất nước tôi có nhiều công nhân tài giỏi được các công ty nước ngoài tuyển mộ nhất thế giới.
Đất nước tôi không thích những cuộc đình công tự phát của công nhân.
Đất nước tôi không ưa những công nhân hay phàn nàn với chủ.
Nói chung đất nước tôi có những người quen thói phục tùng nhất.
(vì thế tôi sẽ là một nhân viên giỏi phục vụ và không đòi hỏi)

Đất nước tôi có một nền giáo dục với thành tích đỗ đạt cao nhất thế giới.
Đất nước tôi đào tạo những sinh viên có trí nhớ và khả năng thuộc lòng giỏi nhất.
Đất nước tôi sản xuất những nhân tài khuôn mẫu giống nhau nhất.
Tôi là một thành quả tuyệt vời của nền giáo dục có một không hai đó.

Nay tôi gửi đơn xin việc này đến công ty của quý ngài và mong quý ngài cứu xét. Tôi tin rằng với những thành tích nêu trên tôi xứng đáng để trở thành một nhân viên tuyệt vời cho công ty của ngài.

*

Thư trả lời

Dear Mr. Vu

Trong một thời gian ngắn, chúng tôi đã nhận được hàng nghìn resume tương tự như của anh.

Đúng là anh có nhiều thứ nhất trên thế giới.

Điểm đặc biệt nhất là sự giống nhau, đồng nhất trong các resume chúng tôi nhận được từ các anh.

Nhờ thế mà chúng tôi đã có thể tiết kiệm thời giờ và ngân sách của công ty bằng cách chỉ phỏng vấn 1 người thay vì hàng nghìn người nộp đơn.

Chúng tôi rất tiếc phải thông báo với anh là chúng tôi đã quyết định nhanh chóng để mướn một nhân viên người Thái Lan.

Người này không có những cái nhất như anh có. Anh ta chỉ có ba đức tính mà công ty chúng tôi cần: độc lập, sáng tạo, và dám đặt vấn đề.

*

Vũ Đông Hà

http://vudongha.wordpress.com/2010/06/23/dn-xin-viec/